Thứ Bảy, 25 tháng 10, 2014

CÁ NGỪ VIỆT NAM NHIỄM E.COLI, SALMONELLA, CÁ NGỪ VIỆT NAM KHÓ ĐI MỸ

Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu cá ngừ đại dương ở Khánh Hòa đi Mỹ đã bị trả lại hàng vì không bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm.
Ngày 22/10, ông Võ Thiên Lăng, Chủ tịch Hội Nghề cá tỉnh Khánh Hòa, cho biết thời gian gần đây, nhiều doanh nghiệp (DN) xuất khẩu cá ngừ đại dương đi Mỹ gặp khó khăn, bị trả hàng liên tục vì cá nhiễm vi sinh như khuẩn E.Coli, Salmonella…
Theo website của Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA), vi phạm nhiễm vi khuẩn đã có trên 90 DN xuất khẩu thủy sản của Việt Nam nằm trong danh sách cảnh báo đỏ,
- Ở Khánh Hòa, gần 10 DN có xuất khẩu cá ngừ bị nằm trong danh sách này.
Vì sao cá ngừ Việt Nam khó đi Mỹ? - 1
Bảo đảm vệ sinh cá ngừ phải được thực hiện từ khâu đầu tiên.
Theo bà Nguyễn Thị Thu Thanh, Giám đốc Công ty TNHH Hải sản Bền Vững, công ty từng bị trả 20 tấn cá ngừ phi lê do FDA phát hiện nhiễm vi sinh Salmonella (gây bệnh thương hàn, đường ruột
- Mỗi lần bị trả hàng, ít nhất công ty lỗ khoảng 8.000 USD. Tuy nhiên, có nhiều lô mặc dù xử lý diệt khuẩn hàng chục lần nhưng xuất khẩu trở lại vẫn bị trả về khiến DN mất trắng hàng trăm ngàn USD.
“Khác với châu Âu chỉ cần truy xuất nguồn gốc, căn cứ nhiều vào giấy tờ hợp lệ, thị trường Mỹ không quan trọng giấy tờ mà họ kiểm nghiệm thực tế chất lượng mặt hàng.
- Việc bị công bố sản phẩm nhiễm vi sinh khiến DN Việt Nam mất uy tín với đối tác,
- Ông Nguyễn Xuân Nam, Giám đốc Công ty TNHH Hải Vương - đơn vị từng bị trả hàng vì cá nhiễm khuẩn, nhận định.

Nguyên nhân có thể từ khâu rã đông của các vựa cá đã nhiễm vi sinh
các chủ ghe, chủ vựa lại dùng nước biển ngay dưới cảng để rã đông cá. Điều này khiến nguy cơ cá nhiễm vi khuẩn tăng cao bởi người dân ở khu vực này thường xả nước thải sinh hoạt ngay khu vực cảng khiến nguồn nước ở đây ô nhiễm nặng

Test nhanh E.COLI, COLIFORM, TỔNG KHUẨN, NẤM MEN – NẤM MỐC BẲNG QUE TEST HY-LABS
+ Que test nhanh Hy-Labs kiểm tra nhanh vi sinh bề mặt, trong môi trường nước bằng những tăm bông
+ Tổng khuẩn – 48h
+ Coliform và E.Coli tiêu chuẩn – 18h
+ Nấm men – nấm mốc – 48h
Bộ 20 test giá chỉ 1,000,000 vnđ ==> 1 test = 50,000 vnđ
 Thông tin đặt hàng
Code 9113 Hy-labs Coliforms and Generic E. coli
Code 9111 Hy-labs Total Count
Code 9114 Hy-labs Yeast and Mold


Thứ Ba, 9 tháng 9, 2014

ĐÁNH GIÁ CẢM QUAN CÁ NGỪ - PHÂN TÍCH CẢM QUAN

Xác định sự biến đổi màu sắc cơ thịt cá ngừ bằng phương pháp phân tích dụng cụ
Chất lượng thịt cá ngừ thường được đánh giá dựa vào màu sắc. Phương pháp đánh giá cảm quan hay được sử dụng nhưng không chính xác và khách quan. Bài viết này trình bày kết quả xác định màu sắc của thịt cá ngừ bằng phương pháp phân tích dụng cụ dựa vào chỉ số a và R.

Nghiên cứu được tiến hành trên các miếng cá ngừ vây vàng, bao gói thường, bảo quản ở 2oC trong7 ngày. Kết quả nghiên cứu cho thấy có thể sử dụng chỉ số a và/hoặc R để phân tích màu sắc của thịt cá ngừ và theo dõi sự biến đổi màu sắc của thịt cá trong quá trình bảo quản lạnh. Bên cạnh đó, kết quả cũng chỉ ra rằng giữa chỉ số a và R có một mối tương quan khá chặt chẽ với giá trị R2 = 0,9273. Phương pháp phân tích dụng cụ khắc phục được những hạn chế của phương pháp đánh giá truyền thống bằng cảm quan.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Cá ngừ đại dương là một trong những mặt hàng XK chủ lực của ngành thủy sản Việt Nam trong những năm gần đây, chỉ đứng sau tôm và cá tra. Kim ngạch XK cá ngừ luôn tăng trong giai đoạn 2009 - 2012 với giá trị XK tăng từ 181 triệu USD  lên 544,694 triệu USD . Trong năm 2013, mặc dù gặp nhiều khó khăn về thị trường và nguồn lợi bị suy giảm dẫn đến thiếu nguyên liệu cho sản xuất nhưng giá trị XK của mặt hàng này vẫn đạt 526 triệu USD. Dự kiến trong năm 2014, XK cá ngừ sẽ đạt khoảng 550 triệu USD (VASEP, 2014).

Chất lượng thịt cá ngừ đại dương thường liên quan đến màu sắc của cơ thịt. Yếu tố này là một trong số những chỉ tiêu đánh giá chất lượng của sản phẩm cá ngừ và việc kiểm soát chất lượng thành phẩm đầu cuối là cực kỳ quan trọng (Mateo và cộng sự, 2006). Nhìn chung, thịt cá ngừ đại dương tươi thường có màu đỏ đẹp. Tuy nhiên, trong quá trình khai thác, sơ chế, bảo quản, chế biến và lưu trữ thường làm cho màu sắc của thịt cá bị biến đổi (màu nhạt hơn), làm giảm chất lượng thương mại , nhất là không đáp ứng tiêu chuẩn cho sản phẩm ăn sống (shashimi). Để đánh giá màu sắc của thịt cá ngừ, hiện tại phương pháp sử dụng chủ yếu là đánh giá cảm quan. Tuy nhiên, điểm hạn chế của phương pháp này là phụ thuộc quá nhiều vào kinh nghiệm và tính chủ quan của người đánh giá. Do đó, chúng tôi đã tiến hành đánh giá sự thay đổi màu sắc của thịt cá ngừ trong thời gian bảo quản lạnh, sử dụng các chỉ số đánh giá màu sắc của cơ thịt mà không phụ thuộc vào cảm quan của người đánh giá. Đây là một phương pháp phân tích khá đơn giản, nhanh và cho phép phân tích được lượng mẫu lớn.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chuẩn bị mẫu thịt cá ngừ

Cá ngừ đại dương vây vàng (yellowfin tuna) đánh bắt bằng phương pháp câu tay có kết hợp với ánh sáng được mua tại cảng cá Hòn Rế, Nha Trang, Khánh Hòa. Thời gian từ lúc đánh bắt đến khi vận chuyển vào bờ là 9 ngày. Trọng lượng bình quân 45 kg/con. Cá sau khi cập cảng được bảo quản trong thùng xốp ướp đá lạnh và vận chuyển nhanh về nhà máy chế biến Thủy sản JK Fish, Nha Trang, Khánh Hòa. Tại nhà máy, cá được philê thành bốn phần thăn (loins), da, xương và loại bỏ cơ thịt đen. Mỗi phần thăn được cắt thành các miếng 500g/miếng, mỗi miếng cá được đóng trong túi nylon và nhanh chóng vận chuyển về phòng thí nghiệm tại Khoa Công nghệ Thực phẩm, Đại học Nha Trang để bảo quản trong tủ lạnh ở 2oC. Mẫu được lấy định kỳ để phân tích sự biến đối các chỉ tiêu về màu sắc trong 7 ngày.

Phương pháp phân tích

Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng phương pháp xác định chỉ số đặc trưng cho màu đỏ (a) bằng máy so màu và chỉ số R (redness) bằng phương pháp phân tích hình ảnh. Chỉ số a được xác định trực tiếp bằng máy so màu (Minolta, CR 400, Konica, Japan). Chỉ số R được xác định bằng phương pháp phân tích hình ảnh, sử dụng máy ảnh có độ phân giải 16.0 Mega Pixels (Canon, IXY220F, Canon Inc., Japan) để chụp ảnh và phân tích hình ảnh trên phần mềm Image J (NIH, USA), chi tiết của phương pháp như được Bao và cộng sự (2010) mô tả.

Phương pháp xử lý số liệu

Mỗi phân tích được tiến hành lặp lại ba lần, kết quả báo cáo là giá trị trung bình. Số liệu được xử lý trên phần mềm SPSS 17.0 (SPSS, SPSS Inc., Chicago, IL, USA) để tìm ra mối tương quan cũng như sự khác biệt có ý nghĩa giữa các giá trị bằng kiểm định Tukey HSD với mức ý nghĩa p<0,05. Đồ thị được vẽ trên phần mềm Excel (Microsoft Office 2010, Microsoft Corp., USA).

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Bảo quản lạnh ở 2oC làm giảm đáng kể (p < 0,05) màu sắc của cơ thịt cá ngừ dựa vào chỉ số a (Hình 1) và chỉ số R (Hình 2). Trong 3 ngày bảo quản đầu tiên chỉ số a giảm mạnh từ 13,09 (0 ngày) xuống còn 11,56 (3 ngày). Tuy nhiên, sau đó mức độ giảm có phầm chậm lại với giá trị a tại 5 và 7 ngày lần lượt là 11,27 và 11,14. Một xu hướng tương tự cũng được ghi nhận dựa vào chỉ số R. Theo đó, giá trị R cũng giảm đáng kể theo thời gian bảo quản (p<0,05). Chỉ số R tại thời điểm 0 ngày là 146, giảm xuống còn 108 tại thời điểm 7 ngày.

14929708336_9450a43584_o.jpg
Hình 1. Sự thay đổi chỉ số a của thịt cá ngừ trong quá trình bảo quản lạnh ở 2oC. Ký hiệu chữ cái khác nhau theo cột chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa p < 0,05.

Sự suy giảm màu sắc của thịt cá ngừ trong quá trình bảo quản lạnh ở 2oC được thể hiện trong Hình 3. Một số tác giả cũng đã báo cáo sự suy giảm màu sắc của thịt cá ngừ theo thời gian bảo quản [2]. Những tác giả này đã báo cáo rằng giá trị a của miếng phi lê thịt cá ngừ vây xanh (bluefine tuna) giảm đáng kể khi bảo quản lạnh ở 3oC trong thời gian 9 ngày, từ giá trị ban đầu 8 xuống còn 1 ở ngày thứ 9.

14766026969_5fcdbbfaec_o.jpg
Hình 2. Sự thay đổi chỉ số R của thịt cá ngừ trong quá trình bảo quản lạnh ở 2oC. Ký hiệu chữ cái khác nhau theo cột chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa p < 0,05.

Yaowapa và cộng sự [4] cũng đã chỉ ra rằng chỉ số a của các lát thịt cá ngừ (Euthynnus affinis) bảo quản lạnh ở 4oC giảm đáng kể sau 3 ngày bảo quản và sau đó giảm nhẹ đến 9 ngày bảo quản, tương ứng với giá trị a giảm từ khoảng 10,5 xuống còn 8. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương đối phù hợp với kết quả công bố của nhóm tác giả này.

Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng giữa chỉ số a và R có một mối tương quan khá chặt  với giá trị của R2 = 0,9273 (Hình 4). Điều đó có nghĩa là có thể dùng chỉ số R để đánh giá mức độ thay đổi màu sắc của cơ thịt cá ngừ.

14766084988_f3e356bcda_o.jpg
Hình 3. Màu sắc của cơ thịt cá ngừ trong quá trình bảo quản ở 2oC tại thời điểm 0 ngày (A) và 7 ngày (B).

Việc sử dụng chỉ số R sẽ đơn giản và có thể thực hiện được rất nhanh trong thực tế vì không cần phải đòi hỏi dụng cụ đắt tiền (máy so màu) như phương pháp xác định chỉ số a. Để xác định R chỉ cần một máy ảnh có độ phân giải khoảng 16.0 Mega pixels trở lên cộng với một máy tính.

Cho đến nay chưa có tác giả nào công bố về việc xác định màu sắc của thịt cá ngừ bằng phương pháp xác định chỉ số R. Nghiên cứu của chúng tôi có thể được xem như công bố đầu tiên về phương pháp xác định màu sắc của thịt cá ngừ dựa vào chỉ số R.

14766026809_b772811a8d_o.jpg
Hình 4. Mối tương quan giữa chỉ số a và chỉ số R.

KẾT LUẬN

Những kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy thịt cá ngừ bảo quản ở 2oC dẫn đến sự giảm màu sắc đáng kể. Sử dụng chỉ số a và/hoặc R là một trong những công cụ hiệu quả để theo dõi sự suy giảm màu sắc của thịt cá ngừ trong quá trình lưu trữ lạnh. Kết quả nghiên cứu này cho thấy tiềm năng ứng dụng trong thực tiễn của hai chỉ số. Các nhà chế biến cá ngừ có thể sử dụng chỉ số a và R trong việc giám sát hoặc kiểm soát chất lượng trong quá trình sản xuất.

Tác giả bày tỏ sự cảm ơn chân thành đến Công ty TNHH Thiết bị Khoa học Thiên Ấn đã tài trợ một phần kinh phí thực hiện nghiên cứu này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bao, H.N., Oshako, K., Oshima, T. (2010). Value-added use of mushroom ergothioneine as a colour stabilizer in processed fish meats, 90 (10), pp. 1634-41.

2. Elena Torrieri, Pier Antimo Carlino, Silvana Cavella, Vincenzo Fogliano, Ilaria Attianese, Giovanna, Paolo Masi, Giuliana Buonocore (2011). Effect of modified atmosphere and active packaging on the shelf-life of fresh bluefin tuna fillets. Journal of Food Engineering, 105, pp. 429 - 435.

3. Mateo, A., Soto, F., Villarejo, J.A, Roca-Dorda, J., De la Gandara, F., García, A. (2006). Quality analysis of tuna meat using an automated color inspection system. Aquacultural Engineering, 35, pp. 1-13.

4. Yaowapa Thiansilakul, Soottawat Benjakul, Mark P. Richards (2013). Effect of phenolic compounds in combination with modified atmospheric packaging on inhibition of quality losses of refrigerated Eastern little tuna slices. LWT - Food Science and Technology, 50, pp. 146 - 152.

Thứ Tư, 3 tháng 9, 2014

CẢM ƠN GIÀN KHOAN HD-981

Có lẽ, nhiều người phải cảm ơn cái dàn khoan HD-981 của công ty CNOOC.
Nhờ có cái dàn khoan ấy, nhiều thanh niên mới bắt đầu tìm hiểu xem luật biển là gì, COC với DOC là gì, nhiều thanh niên khác lần đầu tiên nhìn lên bản đồ và ngó xem xem, Hoàng Sa gần đảo Hải Nam đến thế nào còn Trường Sa gần Philippines ra sao.
Nhờ có cái dàn khoan, sự anh dũng của các chiến sĩ được mọi người hiểu rõ hơn, trang fanpage của Việt Tân lẫn Đơn vị tác chiến điện tử đều tăng được cả trăm nghìn fan, talking about this tăng vọt. Ai nấy đều muốn tìm hiểu về quân sự của Việt Nam, bao người sẵn sàng gia nhập quân ngũ.
Nhờ có cái dàn khoan, người Việt hiểu được sức mạnh của dân tộc, sức mạnh ấy thể hiện qua hàng chục nhà máy của cả Việt Nam, Đài Loan lẫn Hàn Quốc, Nhật Bản bị đập, đốt tan tành, qua hàng chục nghìn chữ ký trên mạng hay hàng tỷ đồng tiền quyên góp cho Trường Sa.
Nhờ có cái dàn khoan ấy mới có lần đầu tiên một cuộc biểu tình mà những đoàn viên thanh niên giơ cao biểu ngữ ủng hộ nhà nước đi cùng các biểu ngữ đòi tự do cho nhiều tù nhân chính trị.
Kể từ ngày hôm ấy, cái ngày mà khói lửa bốc lên ở Bình Dương, có một điều gì đó lớn lao đã thay đổi ở đất nước này. Tôi không nói cụ thể được nó là gì, nhưng rõ ràng là mọi thứ không còn như trước nữa, một cỗ máy nào đó đã được vận hành.
Nhưng, có lẽ có nhiều thứ rồi cũng sẽ đi vào quên lãng. Có một mùa hè, người ta nói về sự gian trá trong những mùa thi, để rồi một mùa hè khác món chè khúc bạch lên ngôi thay thế cho những sự um xùm về nàn hôi của. Mùa hè năm nay, cái dàn khoan đè xuống cái bản đề xuất cải cách giáo dục 36000 tỷ của bộ giáo dục cũng như cái án dành cho ông Dương Chí Dũng.
Có thể, ngày mai, báo sẽ lại đưa tin, có một dàn khoan lạ xâm nhập vào vùng biển nước ta, hoặc là có tàu lạ đến cắt cáp dưới đáy biển.
Có thể lắm chứ, chủ trương mà.

VIỆT NAM THUỘC ĐỊA CỦA TRUNG QUỐC? Made in china

Đây là câu nói của một ông giám đốc người Nhật, nói trước hàng chục quan khách Việt Nam trong một phòng hội thảo của một khách sạn 5 sao. Câu nói ấy làm hết thảy các vị doanh nhân, nhà khoa học, thậm chí là cả những viên chức nhà nước trong khán phòng sững sờ. Câu nói ấy không khác việc ông giám đốc người Nhật kia đã vả một cái tát vào mặt tất cả những con người Việt Nam ưu tú trong khán phòng đấy. Họ đều là những người Việt Nam thành đạt, là những người yêu nước, làm sao có thể chịu đựng được sự sỉ nhục ấy.
Thế nhưng, những lời nói tiếp theo đó của vị giám đốc kia đã phải khiến khán phòng gật đầu thừa nhận, thậm chí là vỗ tay. Ông chỉ vào chiếc màn máy chiếu, chỉ vào cặp đèn trên trần nhà, chỉ vào bộ quần áo mà mọi người đang mặc, thậm chí là cây bút và tờ giấy mà họ cầm trên tay, ông nói: “Made in China”. Ông nói rằng, người Việt Nam giỏi lắm, thông minh lắm, kiên cường lắm. Lúc ấy người Nhật thua trận trước người Mỹ, cả nước Nhật thấy sỉ nhục, còn người Việt Nam thì lại thắng nước Mỹ. Nhưng 20 năm qua đi, Nhật Bạn có Toyota, có Honda, có Mitsubishi, Việt Nam có gì? Người Hàn Quốc chịu sỉ nhục trước người Nhật, họ có Huyndai, có Samsung, có LG, Việt Nam có gì?
Tổng giám đốc người Nhật: Tôi nghĩ Việt Nam là thuộc địa của Trung Quốc
Tổng giám đốc người Nhật: Tôi nghĩ Việt Nam là thuộc địa của Trung Quốc
Hàn Quốc có những bối cảnh lịch sử rất giống Việt Nam, đặc biệt khi phải chịu sự chia cắt giữa hai miền đất nước. Cả Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan đều chịu sự chèn ép, cạnh tranh to lớn từ người láng giếng Trung Quốc. Trung Quốc luôn tham vọng trở thành một cường quốc biển, những vụ đụng độ trên biển với Hàn Quốc hay tranh chấp đảo Điếu Ngư/Senkaku với Nhật Bản vẫn luôn không ngừng. Mọi sự so sánh đều là khập khiễng, nhưng không thể dùng sự ngụy biện ấy mà phủ nhận đi một sự thật là Việt Nam đang biện hộ quá nhiều cho sự yếu kém của mình.
Đừng nói nước ta có quá nhiều thế lực thù địch
Đừng nói chúng ta phải chịu nhiều mất mát do chiến tranh
Đừng nói chúng ta gặp phải quá nhiều thiên tai bão lũ
Nếu đã yếu, đã nghèo, ắt phải học khiêm tốn. Hào quang lịch sử, vinh quang quá khứ, dân tộc anh hùng, hai nghìn năm văn hóa sẽ chỉ là thứ huy hoàng cũ kỹ treo trên tường một căn nhà đã dột nát