Xác định sự biến đổi màu sắc cơ thịt cá ngừ bằng phương pháp phân tích dụng cụ
Chất lượng thịt cá ngừ thường được đánh giá dựa vào màu sắc.
Phương pháp đánh giá cảm quan hay được sử dụng nhưng không chính xác và
khách quan. Bài viết này trình bày kết quả xác định màu sắc của thịt cá
ngừ bằng phương pháp phân tích dụng cụ dựa vào chỉ số a và R.
Nghiên
cứu được tiến hành trên các miếng cá ngừ vây vàng, bao gói thường, bảo
quản ở 2oC trong7 ngày. Kết quả nghiên cứu cho thấy có thể sử dụng chỉ
số a và/hoặc R để phân tích màu sắc của thịt cá ngừ và theo dõi sự biến
đổi màu sắc của thịt cá trong quá trình bảo quản lạnh. Bên cạnh đó, kết
quả cũng chỉ ra rằng giữa chỉ số a và R có một mối tương quan khá chặt
chẽ với giá trị R2 = 0,9273. Phương pháp phân tích dụng cụ khắc phục
được những hạn chế của phương pháp đánh giá truyền thống bằng cảm quan.
ĐẶT VẤN ĐỀCá
ngừ đại dương là một trong những mặt hàng XK chủ lực của ngành thủy sản
Việt Nam trong những năm gần đây, chỉ đứng sau tôm và cá tra. Kim ngạch
XK cá ngừ luôn tăng trong giai đoạn 2009 - 2012 với giá trị XK tăng từ
181 triệu USD lên 544,694 triệu USD . Trong năm 2013, mặc dù gặp nhiều
khó khăn về thị trường và nguồn lợi bị suy giảm dẫn đến thiếu nguyên
liệu cho sản xuất nhưng giá trị XK của mặt hàng này vẫn đạt 526 triệu
USD. Dự kiến trong năm 2014, XK cá ngừ sẽ đạt khoảng 550 triệu USD
(VASEP, 2014).
Chất lượng thịt cá ngừ đại dương thường liên quan
đến màu sắc của cơ thịt. Yếu tố này là một trong số những chỉ tiêu đánh
giá chất lượng của sản phẩm cá ngừ và việc kiểm soát chất lượng thành
phẩm đầu cuối là cực kỳ quan trọng (Mateo và cộng sự, 2006). Nhìn chung,
thịt cá ngừ đại dương tươi thường có màu đỏ đẹp. Tuy nhiên, trong quá
trình khai thác, sơ chế, bảo quản, chế biến và lưu trữ thường làm cho
màu sắc của thịt cá bị biến đổi (màu nhạt hơn), làm giảm chất lượng
thương mại , nhất là không đáp ứng tiêu chuẩn cho sản phẩm ăn sống
(shashimi). Để đánh giá màu sắc của thịt cá ngừ, hiện tại phương pháp sử
dụng chủ yếu là đánh giá cảm quan. Tuy nhiên, điểm hạn chế của phương
pháp này là phụ thuộc quá nhiều vào kinh nghiệm và tính chủ quan của
người đánh giá. Do đó, chúng tôi đã tiến hành đánh giá sự thay đổi màu
sắc của thịt cá ngừ trong thời gian bảo quản lạnh, sử dụng các chỉ số
đánh giá màu sắc của cơ thịt mà không phụ thuộc vào cảm quan của người
đánh giá. Đây là một phương pháp phân tích khá đơn giản, nhanh và cho
phép phân tích được lượng mẫu lớn.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨUChuẩn bị mẫu thịt cá ngừCá
ngừ đại dương vây vàng (yellowfin tuna) đánh bắt bằng phương pháp câu
tay có kết hợp với ánh sáng được mua tại cảng cá Hòn Rế, Nha Trang,
Khánh Hòa. Thời gian từ lúc đánh bắt đến khi vận chuyển vào bờ là 9
ngày. Trọng lượng bình quân 45 kg/con. Cá sau khi cập cảng được bảo quản
trong thùng xốp ướp đá lạnh và vận chuyển nhanh về nhà máy chế biến
Thủy sản JK Fish, Nha Trang, Khánh Hòa. Tại nhà máy, cá được philê thành
bốn phần thăn (loins), da, xương và loại bỏ cơ thịt đen. Mỗi phần thăn
được cắt thành các miếng 500g/miếng, mỗi miếng cá được đóng trong túi
nylon và nhanh chóng vận chuyển về phòng thí nghiệm tại Khoa Công nghệ
Thực phẩm, Đại học Nha Trang để bảo quản trong tủ lạnh ở 2oC. Mẫu được
lấy định kỳ để phân tích sự biến đối các chỉ tiêu về màu sắc trong 7
ngày.
Phương pháp phân tíchTrong nghiên cứu
này chúng tôi sử dụng phương pháp xác định chỉ số đặc trưng cho màu đỏ
(a) bằng máy so màu và chỉ số R (redness) bằng phương pháp phân tích
hình ảnh. Chỉ số a được xác định trực tiếp bằng máy so màu (Minolta, CR
400, Konica, Japan). Chỉ số R được xác định bằng phương pháp phân tích
hình ảnh, sử dụng máy ảnh có độ phân giải 16.0 Mega Pixels (Canon,
IXY220F, Canon Inc., Japan) để chụp ảnh và phân tích hình ảnh trên phần
mềm Image J (NIH, USA), chi tiết của phương pháp như được Bao và cộng sự
(2010) mô tả.
Phương pháp xử lý số liệuMỗi
phân tích được tiến hành lặp lại ba lần, kết quả báo cáo là giá trị
trung bình. Số liệu được xử lý trên phần mềm SPSS 17.0 (SPSS, SPSS Inc.,
Chicago, IL, USA) để tìm ra mối tương quan cũng như sự khác biệt có ý
nghĩa giữa các giá trị bằng kiểm định Tukey HSD với mức ý nghĩa
p<0,05. Đồ thị được vẽ trên phần mềm Excel (Microsoft Office 2010,
Microsoft Corp., USA).
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬNBảo
quản lạnh ở 2oC làm giảm đáng kể (p < 0,05) màu sắc của cơ thịt cá
ngừ dựa vào chỉ số a (Hình 1) và chỉ số R (Hình 2). Trong 3 ngày bảo
quản đầu tiên chỉ số a giảm mạnh từ 13,09 (0 ngày) xuống còn 11,56 (3
ngày). Tuy nhiên, sau đó mức độ giảm có phầm chậm lại với giá trị a tại 5
và 7 ngày lần lượt là 11,27 và 11,14. Một xu hướng tương tự cũng được
ghi nhận dựa vào chỉ số R. Theo đó, giá trị R cũng giảm đáng kể theo
thời gian bảo quản (p<0,05). Chỉ số R tại thời điểm 0 ngày là 146,
giảm xuống còn 108 tại thời điểm 7 ngày.
Hình
1. Sự thay đổi chỉ số a của thịt cá ngừ trong quá trình bảo quản lạnh ở
2oC. Ký hiệu chữ cái khác nhau theo cột chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa p
< 0,05.Sự suy giảm màu sắc của thịt cá ngừ trong quá
trình bảo quản lạnh ở 2oC được thể hiện trong Hình 3. Một số tác giả
cũng đã báo cáo sự suy giảm màu sắc của thịt cá ngừ theo thời gian bảo
quản [2]. Những tác giả này đã báo cáo rằng giá trị a của miếng phi lê
thịt cá ngừ vây xanh (bluefine tuna) giảm đáng kể khi bảo quản lạnh ở
3oC trong thời gian 9 ngày, từ giá trị ban đầu 8 xuống còn 1 ở ngày thứ
9.
Hình
2. Sự thay đổi chỉ số R của thịt cá ngừ trong quá trình bảo quản lạnh ở
2oC. Ký hiệu chữ cái khác nhau theo cột chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa p
< 0,05.Yaowapa và cộng sự [4] cũng đã chỉ ra rằng chỉ số
a của các lát thịt cá ngừ (Euthynnus affinis) bảo quản lạnh ở 4oC giảm
đáng kể sau 3 ngày bảo quản và sau đó giảm nhẹ đến 9 ngày bảo quản,
tương ứng với giá trị a giảm từ khoảng 10,5 xuống còn 8. Kết quả nghiên
cứu của chúng tôi cũng tương đối phù hợp với kết quả công bố của nhóm
tác giả này.
Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng giữa chỉ số a và
R có một mối tương quan khá chặt với giá trị của R2 = 0,9273 (Hình 4).
Điều đó có nghĩa là có thể dùng chỉ số R để đánh giá mức độ thay đổi
màu sắc của cơ thịt cá ngừ.
Hình 3. Màu sắc của cơ thịt cá ngừ trong quá trình bảo quản ở 2oC tại thời điểm 0 ngày (A) và 7 ngày (B).Việc
sử dụng chỉ số R sẽ đơn giản và có thể thực hiện được rất nhanh trong
thực tế vì không cần phải đòi hỏi dụng cụ đắt tiền (máy so màu) như
phương pháp xác định chỉ số a. Để xác định R chỉ cần một máy ảnh có độ
phân giải khoảng 16.0 Mega pixels trở lên cộng với một máy tính.
Cho
đến nay chưa có tác giả nào công bố về việc xác định màu sắc của thịt
cá ngừ bằng phương pháp xác định chỉ số R. Nghiên cứu của chúng tôi có
thể được xem như công bố đầu tiên về phương pháp xác định màu sắc của
thịt cá ngừ dựa vào chỉ số R.
Hình 4. Mối tương quan giữa chỉ số a và chỉ số R. KẾT LUẬNNhững
kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy thịt cá ngừ bảo quản ở 2oC
dẫn đến sự giảm màu sắc đáng kể. Sử dụng chỉ số a và/hoặc R là một trong
những công cụ hiệu quả để theo dõi sự suy giảm màu sắc của thịt cá ngừ
trong quá trình lưu trữ lạnh. Kết quả nghiên cứu này cho thấy tiềm năng
ứng dụng trong thực tiễn của hai chỉ số. Các nhà chế biến cá ngừ có thể
sử dụng chỉ số a và R trong việc giám sát hoặc kiểm soát chất lượng
trong quá trình sản xuất.
Tác giả bày tỏ sự cảm ơn chân thành đến
Công ty TNHH Thiết bị Khoa học Thiên Ấn đã tài trợ một phần kinh phí
thực hiện nghiên cứu này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO1.
Bao, H.N., Oshako, K., Oshima, T. (2010). Value-added use of mushroom
ergothioneine as a colour stabilizer in processed fish meats, 90 (10),
pp. 1634-41.
2. Elena Torrieri, Pier Antimo Carlino, Silvana
Cavella, Vincenzo Fogliano, Ilaria Attianese, Giovanna, Paolo Masi,
Giuliana Buonocore (2011). Effect of modified atmosphere and active
packaging on the shelf-life of fresh bluefin tuna fillets. Journal of
Food Engineering, 105, pp. 429 - 435.
3. Mateo, A., Soto, F.,
Villarejo, J.A, Roca-Dorda, J., De la Gandara, F., García, A. (2006).
Quality analysis of tuna meat using an automated color inspection
system. Aquacultural Engineering, 35, pp. 1-13.
4. Yaowapa
Thiansilakul, Soottawat Benjakul, Mark P. Richards (2013). Effect of
phenolic compounds in combination with modified atmospheric packaging on
inhibition of quality losses of refrigerated Eastern little tuna
slices. LWT - Food Science and Technology, 50, pp. 146 - 152.